Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2008

TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Lời mở đầu

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh, đạt mức cao kỷ lục trong 10 tháng đầu năm 2007 khi Việt Nam tiếp tục hưởng những lợi ích của việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đầu năm nay.Văn phòng Tổng cục Thống kê cho hay, Chính phủ đã thông qua các dự án đầu tư nước ngoài trị giá 9,75 tỉ USD và cấp giấy phép cho 1.144 dự án mới tính đến tháng 10.
Tổng số vốn còn tăng hơn, lên đến 11,26 tỉ USD (tăng 36,4% so với cùng kỳ năm ngoái) nếu tính thêm cả 1,51 tỉ USD tăng vốn của 300 dự án được cấp phép.
Khoảng 3,71 tỉ USD trong số 9,75 tỉ USD đầu tư đã vào Việt Nam trong 10 tháng đầu năm và được triển khai tới các điểm đầu tư (tăng 18,8% so với cùng kỳ 2006).
Hàn Quốc đứng đầu danh sách đầu tư nước ngoài ở Việt Nam với tổng số vốn là 2,44 tỉ USD, Quần đảo Virgin thuộc Anh với 1,73 tỷ USD và Singapore với 1,37 tỷ USD.
Tuy nhiên, môi trường đầu tư Việt Nam vẫn kém hấp dẫn thu hút FDI vì chúng ta phụ thuộc khá nhiều vào chính sách Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Sau đây là một số tồn tại trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam:
a) Phổ biến hiện nay hầu như các tỉnh, thành phố đều tập trung mọi cố gắng thu hút FDI vào địa bàn của mình bất kể ngành nào, sản phẩm gì, vì vậy FDI quá tập trung vào các ngành chế biến lương thực - thực phẩm: rượu, bia, nước giải khát, các ngành sản xuất tiêu dùng, chưa có sự đầu tư thích đáng vào ngành sản xuất tư liệu sản xuất, chỉ đầu tư lắp ráp cơ khí điện tử.
b) Chính sách nội địa hoá chưa thoả đáng. Đáng lẽ cần phải tăng cường nội địa hoá thì chính sách của Việt Nam còn chưa chú trọng, phải nhập phụ tùng linh kiện từ bên ngoài, do đó làm tăng giá thành sản phẩm, giảm khả năng cạnh tranh.
c) Việt Nam không có chính sách chuyển giao công nghệ như các nước Trung Quốc, Hàn Quốc… Giá thành của ô tô sản xuất trong nước cao hơn khu vực khá lớn là do tỷ lệ nội địa hoá quá thấp.
d) Chính sách giá chưa hợp lý, chi phí đầu tư vào Việt Nam còn quá cao, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam, làm nản lòng các nhà đầu tư.
Cước điện thoại quốc tế của Việt Nam, Chi phí lưu thông giao nhận nếu gửi hàng container ,Các chi phí và lệ phí liên quan đến giao nhận tại các cảng biển và sân bay quá cao. Có 12 loại phí và lệ phí bất hợp lý mà doanh nghiệp phải nộp như phí lưu kho sân bay 1.200đ/kg, phí an ninh 230đ/kg, phí lao vụ 0,06 USD/kg...Giá điện cao hơn 50%, giá nước cao hơn 71% so với ASEAN, Trung Quốc.
e) Giá cả đất đai của thành phố ở Việt Nam cao hơn so với các nước trong khu vực, giá thuê đất TP. Hồ Chí Minh gấp 4-6 lần Trung Quốc, 6 lần so với Thái Lan. Tình hình này ảnh hưởng lớn đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
f) Ngoài ra quan điểm nới lỏng đầu vào quản lý chặt đầu ra, hậu kiểm thay thế tiền kiểm như các nhà đầu tư nước ngoài từng nói Chính phủ Việt Nam chỉ khuyến khích đầu tư không khuyến khích sản xuất, tiền hậu bất nhất không nhất quán. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho thu hút FDI của ta giảm.
Tóm lại, nguyên nhân chủ yếu khiến môi trường đầu tư Việt Nam giảm thu hút đầu tư nước ngoài là do giá đầu vào như nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu còn cao nhất tại khu vực ASEAN. Ngoài ra môi trường đầu tư Việt Nam thiếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không nhất quán và không minh bạch.Để khắc phục những tồn tại trên, chúng ta cần nghiên cứu một số giải pháp để tăng cường nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
Môi trường kinh tế Việt Nam khá ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, bình quân mỗi năm thu nhập tăng khoảng 4 - 5% là mức cao so với khu vực. Đó là điều kiện để không ngừng mở rộng dung lượng của thị trường. Chỉ số phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đạt mức cao hơn trình độ phát triển kinh tế, phản ánh những điểm nổi trội của chất lượng nguồn nhân lực, có khả năng tiếp thu và thích nghi hoá chuyển giao công nghệ để không ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Quá trình chuyển đổi nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, đẩy mạnh cải cách hành chính, ngày càng tạo thêm thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa chính sách thu hút đầu tư nước ngoài bằng những biện pháp cụ thể sau:

1- Xây dựng hệ thống cơ chế chính sách cụ thể để cải thiện môi trường kinh doanh và khuyến khích mang tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực, nhất là đối với các lĩnh vực, địa bàn và các dự án ưu tiên khuyến khích đầu tư. Tiếp tục điều chỉnh một bước giảm giá và chi phí của các dịch vụ; sửa đổi một số chính sách để tạo thuận lợi cho việc triển khai dự án đầu tư, thế chấp quyền sử dụng đất; giải phóng mặt bằng, bảo lãnh đầu tư. Đẩy nhanh việc xây dựng và triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư áp dụng chung cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư nước ngoài với những nội dung cơ bản sau:
a ) Thể chế hóa chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế phải được hoạt động trên một khuôn khổ pháp lý chung, bình đẳng. Bước đột phá quan trọng trong thời gian qua đó là sự phá bỏ độc quyền trong cung cấp dịch vụ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới như: Viettel, EVN Telecom, Hanoi Telecom... phát triển. Chính vì vậy hiện nay, giá thành dịch vụ ICT đã rẻ hơn trước rất nhiều, chuẩn chất lượng được nâng lên. Hiện nay, các doanh nghiệp đã bao sân hầu hết các dịch vụ về thoại, Internet, các dịch vụ gia tăng khác.
b) Mở rộng và phát triển quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Doanh nghiệp có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn, thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật bảo hộ.

c ) Đơn giản hóa thủ tục hành chính. Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, áp dụng phổ biến chế độ đăng ký (thay cho cấp phép), xóa bỏ những quy định “xin-cho”, “phê duyệt”, “chấp thuận” bất hợp lý, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Để tăng cường sự quản lý thống nhất đầu tư nước ngoài trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp cho các cơ quan chính quyền địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và UBND địa phương. Tăng cường, việc giám sát công tác ban hành các văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài của các Bộ, ngành và UBND địa phương nhằm đảm bảo tính thống nhất, không chồng chéo và vượt khuôn khổ pháp luật hiện hành.
Minh bạch hóa thủ tục cấp đất và sử dụng đất. Hoàn chỉnh các biện pháp và quy trình về thủ tục giao quyền sử dụng đất liên quan đến các dự án đầu tư nước ngoài, hướng tới giảm bớt các đầu mối trung gian không cần thiết để rút ngắn khoảng thời gian chờ đợi kéo dài cho các chủ đầu tư. Cải tiến và tạo cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa chính quyền các cấp trong việc triển khai các thủ tục cho thuê đất thực hiện dự án.

d ) Chuyển đổi chức năng quản lý của Nhà nước theo hướng coi việc khuyến khích, hướng dẫn, trợ giúp doanh nghiệp là chức năng chính, coi nhà đầu tư và doanh nghiệp là đối tượng phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước. Cần quy định rõ và đủ chi tiết cụ thể về trách nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việc thực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía. Điều chỉnh các quy định về thành lập, tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiến tới thực hiện đối xử quốc gia đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Để không gây ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn chuyển đổi từ Luật cũ sang Luật mới, cần làm tốt công tác chuẩn bị, nhất là sớm xây dựng Thông tư hướng dẫn, tập huấn về các Luật, tuyên truyền rộng rãi về nội dung của các Luật mới trên các phương tiện thông tin đại chúng.

2- Đẩy mạnh việc thực hiện đa dạng hóa hình thức đầu tư:
Một là, nới lỏng các điều kiện để thu hút nhiều hơn đầu tư gián tiếp thông qua việc cho phép mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam, thành lập các doanh nghiệp cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài và cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phát hành trái phiếu để huy động vốn ở trong nước và nước ngoài.
Hai là, cho phép thành lập Công ty hợp danh. Đối với một số lĩnh vực kinh doanh tính chất chuyên môn, nghiệp vụ cao như tư vấn pháp luật, kiểm toán, tư vấn tài chính., công ty hợp danh là hình thức được áp dụng phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc các lĩnh vực trên đã được cấp giấy phép đầu tư, tuy nhiên dưới hình thức công ty TNHH. Để góp phần nâng cao chất lượng một số loại dịch vụ thiết yếu, bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng, cho phép thành lập doanh nghiệp hợp danh có vốn đầu tư nước ngoài.
Ba là, cho phép các công ty nước ngoài mở chi nhánh tại Việt Nam.
Để mở rộng hình thức thu hút đầu tư nước ngoài phù hợp với thông lệ quốc tế, nhất là tranh thủ tiềm lực của các công ty xuyên quốc gia, cần nghiên cứu bổ sung các quy định cho phép thành lập chi nhánh của Công ty nước ngoài tại Việt Nam.
Bốn là, cho phép thành lập Công ty quản lý vốn (Holding Company).
Một số tập đoàn kinh tế lớn đã đầu tư cùng lúc nhiều dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, mỗi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cùng một chủ đầu tư có bộ máy điều hành riêng, hoạt động kinh doanh độc lập. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh, giảm những chi phí không cần thiết..., cần khẩn trương nghiên cứu cho phép các tập đoàn lớn thành lập công ty quản lý vốn, điều phối và hỗ trợ các dự án đầu tư của họ tại Việt Nam.

3 - Nâng cao chất lượng xây dựng Danh mục dự án đầu tư:
Xây dựng Danh mục dự án gọi vốn đầu tư thống nhất, minh bạch, rõ ràng có thể dự đoán trước các lĩnh vực đầu tư theo tiêu chí cấm đầu tư, đầu tư có điều kiện căn cứ trên các quy hoạch ngành, lãnh thổ trong từng thời kỳ, có chú ý việc khai thác lợi thế tại chỗ và hiệu quả kinh tế, xã hội mà dự án đem lại cũng như phù hợp với mối quan tâm của các nhà đầu tư. Các dự án cần đáp ứng các điều kiện thông tin về mục tiêu, địa điểm, đối tác thực hiện, hình thức đầu tư, nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và cơ sở hạ tầng.

4 - Đầu tư cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng như cung cấp điện, nước, viễn thông, dịch vụ cảng biển, thông tin, cũng như nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.

a) Trong lĩnh vực nông nghiệp:
Vốn ngân sách, vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) sẽ được đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn, đào taọ nghề cho nông dân, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, taọ điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi đầu tư vào Việt Nam.

b) Trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin:
Các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng công nghệ mới CDMA; chủ động mở hướng đầu tư mới, đơn cử như: VNPT đã đầu tư sang Mỹ, Viettel đầu tư sang Cămpuchia; chủ động trong hợp tác quốc tế với các Tập đoàn lớn của Thụy Điển, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc.

5 - Về lao động-tiền lương:
+ Tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm ngăn chặn đình công bất hợp pháp;
+ Đẩy nhanh việc triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, nhất là về nhà ở và điều kiện sinh hoạt của người lao động. Cần có chương trình cụ thể về tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, kể cả về cán bộ quản lý các cấp và cán bộ kỹ thuật.

6 -Tổ chức các chương trình vận động xúc tiến đầu tư:
+ Tiếp tục tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu về môi trường đầu tư chung tại các địa bàn và đối tác đã được nghiên cứu và xác định. Bên cạnh đó, tổ chức các cuộc hội thảo chuyên ngành, hoặc lĩnh vực tại các địa bàn có thế mạnh với sự tham gia của các cơ quan chuyên ngành. Đổi mới phương pháp trình bày tại các hội thảo, sử dụng các phương tiện nghe, nhìn nhằm thu hút quan tâm của người tham dự hội thảo.
+ Kết hợp với các chuyến đi thăm, làm việc nước ngoài của các nhà lãnh đạo Đảng, Chính phủ để tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu môi trường đầu tư, mời các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại các cuộc hội thảo nhằm xây dựng hình ảnh tốt về sự quan tâm của Chính phủ đối với đầu tư nước ngoài.
+ Lựa chọn và chuẩn bị thông tin một số dự án có tính khả thi cao để đưa ra giới thiệu với các doanh nghiệp nước ngoài nhân các chuyến đi thăm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
+ Phối hợp với các tổ chức nước ngoài, thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí nước sở tại; thực hiện các đợt tuyên truyền, giới thiệu về Việt Nam.
+ Phối hợp với các cơ quan liên quan duy trì, nâng cao chất lượng các cuộc đối thoại với cộng đồng các nhà đầu tư, kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc trong hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Cần quán triệt tinh thần thực hiện những điều đã hứa với nhà đầu tư và có phản hồi.
+ Định kỳ tổ chức các cuộc trao đổi về công tác xúc tiến đầu tư, thống nhất các định hướng, giải pháp thu hút đầu tư, trao đổi các thông tin liên quan đến địa bàn, đối tác vận động đầu tư.
+ Cần tăng cường hơn nữa việc tiếp cận và hỗ trợ để thu hút đầu tư của các TNCs trên cơ sở tạo mọi điều kiện tối đa nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư.
+ Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói riêng và quản lý đầu tư nói chung. Vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở các lớp đào tạo về xúc tiến và quản lý đầu tư nước ngoài.
+ Xây dựng các văn phòng xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm hoặc cử cán bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư công tác tại các Đại sứ quán để thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư. Trước mắt, thực hiện tại các địa bàn Nhật Bản, Đức hoặc Anh và duy trì đại diện hiện có của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Đài Loan, Hoa Kỳ. Ngoài ra, đề nghị UNIDO xem xét nối lại chương trình cử đại diện Việt Nam tại Văn phòng xúc tiến đầu tư của UNIDO (IPS) tại một số nước và khu vực trọng điểm (Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, áo, Italia, Hoa Kỳ);
+ Cần thống nhất về chủ trương và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Trung ương và địa phương trong vận động xúc tiến đầu tư trên cơ sở Bộ Kế hoạch và Đầu tư hỗ trợ các địa phương ít có điều kiện tham gia các đợt vận động xúc tiến đầu tư tại nước ngoài. Xây dựng cơ chế phối hợp trong điều kiện các địa phương có điều kiện mở các văn phòng xúc tiến đầu tư ở nước ngoài;
Để thực hiện có hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, cần tổ chức nghiên cứu địa bàn, đối tác vận động đầu tư theo hướng nghiên cứu chiến lược phát triển, thực trạng và xu hướng đầu tư của các công ty lớn, tập đoàn xuyên quốc gia tại các khu vực quan trọng như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Trước mắt, tập trung nghiên cứu các khả năng tiếp cận với các công ty tại thị trường Hoa Kỳ là thị trường nhiều tiềm năng, nhưng ta ít có kinh nghiệm. Ngoài ra, cần tập trung nghiên cứu tình hình, xu hướng đầu tư trên thế giới, và trong khu vực, các cơ chế hợp tác song phương, đa phương về đầu tư và kinh nghiệm thu hút đầu tư của các nước.
+ Tiếp tục thực hiện các hợp tác về xúc tiến đầu tư với các nước như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan thông qua các tổ chức như JICA, JETRO (Nhật Bản) , EDB (Singapore), BOI (Thái Lan), GTZ (Đức) và nối lại hợp tác xúc tiến đầu tư với MIDA của Malaysia. Tăng cường hợp tác với Phòng Thương mại và Công nghiệp của các nước, các tổ chức xúc tiến thương mại để tổ chức các cuộc vận động xúc tiến đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước.
+ Nâng cấp trang thông tin website giới thiệu về đầu tư nước ngoài và được thiết kế khoa học bằng tiếng Anh, tiếng Hoa và tiếng Nhật. Biên soạn lại các tài liệu giới thiệu về đầu tư nước ngoài (guidebook, in tờ gấp giới thiệu về cơ quan quản lý đầu tư, cập nhật các thông tin về chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài). Làm đĩa VCD hoặc CD ROM để giới thiệu về môi trường đầu tư.
+ Trên cơ sở các hoạt động xúc tiến đầu tư dự kiến trong năm, các Bộ, ngành, địa phương xây dựng đề án thành lập quỹ xúc tiến đầu tư để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt và bố trí ngân sách thường xuyên cho công tác xúc tiến đầu tư.
+ Tranh thủ sự hỗ trợ tài chính của các tổ chức quốc tế để phục vụ công tác xúc tiến đầu tư.
+ Duy trì thường xuyên các hình thức đối thoại với cộng đồng đầu tư nhằm xử lý kịp thời các khó khăn vướng mắc trong hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên hợp doanh.
Kết luận

Hy vọng trong thời gian tới với sự hỗ trợ của một hệ thống cơ chế chính sách về khuyến khích FDI bao gồm các chính sách về ưu đãi vốn và tín dụng, đất đai, phát triển thị trường, hạ tầng và nguồn nhân lực…ổn định và hoàn thiện hơn.Với quyết tâm cải cách về chính sách và thể chế, chúng ta tin tưởng rằng cơ hội đầu tư tại Việt Nam tiếp tục được mở rộng và công việc đầu tư kinh doanh tại Việt Nam sẽ ngày càng thuận lợi hơn. Hy vọng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đến với Việt Nam để cùng hợp tác làm ăn lâu dài và khai thác những tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam, tạo ra những sản phẩm có uy tín và chất lượng. Riêng ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn, một ngành hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế Việt Nam, cũng sẽ phát triển hệ thống quản lý và xúc tiến FDI đối với các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam cũng như các nước vùng lãnh thổ có tiềm năng đầu tư vào nông nghiệp…hướng tới mục tiêu đến năm 2010, ngành nông nghiệp có thể huy động 1,5 tỷ USD vốn thực hiện FDI.

VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA

Tiểu luận cuối khóa: Đề tài: "Xử lý tình huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa và ngành nghề có ảnh hưởng, liên quan đến môi trường văn hoá" trên địa bàn thành phố Biên Hoà.
Mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến để tiểu lâụn hoàn chỉnh hơn.
A. MỞ ĐẦU:
Thành phố Biên Hòa là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa phát triển với nhịp độ tăng trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng công nghiệp - thương mại - dịch vụ, tương xứng với trung tâm công nghiệp quan trọng không chỉ của tỉnh Đồng Nai mà còn của cả nước và từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực ASEAN và toàn cầu. Với xu thế phát triển đó, nhu cầu phát triển nhanh về các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh là điều tất yếu khách quan.
Quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong phát triển văn hóa nêu: phát triển xã hội hóa hoạt động văn hóa cần phải chú trọng chống thương mại hóa trong kinh doanh. Thực hiện chủ trương xã hội hóa theo Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 và Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, thể dục thể thao của Chính phủ. Thời gian qua, thành phố Biên Hòa đã có bước phát triển rõ rệt của khu vực ngoài công lập; bước đầu huy động được tiềm năng và nguồn lực xã hội; mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình văn hóa. Song song đó, các loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa và ngành nghề nhạy cảm khác cũng nhanh chóng phát triển như: nhà hàng karaoke, vũ trường, quán bar bia ruợu, café, hớt tóc thanh nữ, massa xông hơi, xoa bóp.
Cùng với quá trình hội nhập, một bộ phận các chủ kinh doanh vì “hám lợi” đã cạnh tranh không lành mạnh, hoạt động biến dạng dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện trong kinh doanh đã làm ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống và thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, gây nhiều dư luận xã hội và làm đau đầu các cơ quan quản lý trên lĩnh vực hoạt động này.
Trước “báo động” thực trạng hoạt động dịch vụ văn hóa và ngành nghề nhạy cảm luôn diễn biến phức tạp. Tôi quan tâm và chọn: “Tình huống xứ lý, kiểm tra xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa và ngành nghề có liên quan, ảnh hưởng đến môi trường văn hóa” trên địa bàn thành phố Biên Hòa để làm đề tài cuối khóa “Lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước - chuyên viên khoá 2 năm 2008.
B. NỘI DUNG:
I. Mô tả tình huống:
Ông Hoàng Văn Đ... đăng ký thường trú tại thôn ... ấp ....., huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Năm 2007 Ông Đ... vào thành phố Biên Hòa để làm ăn sinh sống. Ông thuê nhà để tạm trú và thành lập DNTN tại địa chỉ: ....., khu phố.... phường Bửu Long, thành phố Biên Hoà với ngành nghề: Massa, xông hơi, xoa bóp.
Để tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh, tháng 2/2008, Ông Đ... thuê thêm căn nhà do bà Lê Thị M... làm chủ tại địa chỉ: .... tổ 3 khu phố 11 phường Tân Phong thành phố Biên Hoà để thành lập chi nhánh tại đây.
Sau khi tiến hành thủ tục, Ông Đ... đã được Sở kế hoạch - Đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp giấy phép thành lập chi nhánh DNTN số: .........., cấp ngày 14/3/2008, mang tên “HP” cũng với ngành nghề kinh doanh: massa, xông hơi, xoa bóp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh chi nhánh DNTN "HP" thường để xãy ra tình trạng mất an ninh trật tự, gây nhiều bức xúc cho người dân chung quanh. Ngày 10/8/2008, nhân dân khu phố ... phường Tân Phong có đơn khiếu nại phản ảnh về những biểu hiện thiếu lành mạnh tại cơ sở này như: nhân viên nữ mặc trang phục hở hang chèo kéo khách nam trước cơ sở gây phản cảm; thường xuyên hoạt động quá giờ quy định (sau 24h), mất an ninh trật tự ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân chung quanh và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại khu dân cư.
Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Biên Hòa, Đội kiểm tra liên ngành đã triển khai kế hoạch, tiến hành khảo sát, nắm bắt địa bàn. Xác định nội dung đơn khiếu nại, tố cáo là có cơ sở. Vào lúc 22h00, ngày 15/8/2008, Đội kiểm tra liên ngành thành phố Biên Hòa phối hợp Tổ kiểm tra liên ngành phường Tân Phong tiến hành tổ chức kiểm tra tại đây. Qua kiểm tra đã phát hiện nhiều sai phạm và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với cơ cở này.
II. Mục tiêu xử lý tình huống:
Trước thực trạng hoạt động massa, xông hơi, xoa bóp trên địa bàn thành phố Biên Hòa đang diễn biến phức tạp và họat động len lõi trong khu dân cư. Do đó cần xác định mục tiêu như sau:
1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
Nhằm lập lại trật tự kỹ cương trên lĩnh vực hoạt động văn hóa và ngành nghề nhạy cảm, ngăn ngừa những biến tướng trá hình trong kinh doanh. Đề ra những giải pháp vừa mang tính giáo dục, thuyết phục vừa kiên quyết răn đe giúp chủ kinh doanh nhận thức, hiểu biết và chấp hành đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước.
2. Đối với chính quyền địa phương:
Tăng cường hơn nữa trách nhiệm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đối với Cấp ủy Đảng, chính quyền trong công tác quản lý, kiểm tra trên địa bàn mình quản lý.
Từ nội dung đơn phản ảnh của nhân dân, cần tiếp tục tuyên truyền, vận động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh, tố giác bài trừ các tệ nạn xã hội trên địa bàn dân cư gắn liền với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
3. Đối với chủ doanh nghiệp:
Nâng cao ý thức của chủ doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định pháp luật. Trong tổ chức kinh doanh cần thể hiện trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, không vì lợi nhuận trước mắt đưa họat động trá hình vào kinh doanh, làm ảnh hưởng đến đạo đức lối sống và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn kinh doanh.
III. Phân tích nguyên nhân và hậu quả:
1. Nguyên nhân:
1.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
Công tác quản lý nhà nước còn buông lõng, thiếu sự đồng bộ, chồng chéo và thậm chí còn vô hiệu hóa lẫn nhau. Ngành này đình chỉ, thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh thì ngành khác lại cấp.
Công tác thanh tra, xử lý tệ nạn xã hội của cơ quan chức năng có nơi, có lúc chưa kiên quyết, triệt để, đôi lúc còn "nhẹ tay", nên các chủ doanh nghiệp “ỷ lại” vẫn ngang nhiên hoạt động và bất chấp dư luận xã hội.
1.2. Đối với chính quyền địa phương:
Công tác quản lý kiểm tra, nắm bắt địa bàn của Công an khu vực và Tổ kiểm tra liên ngành thiếu sâu sát, chưa hướng dẫn kịp thời để chủ doanh nghiệp nhận thức trách nhiệm của mình trong quá trình tổ chức kinh doanh.
Khi nhận được ý kiến phản ảnh của người dân Chính quyền địa phương còn nể nang, chưa kiên quyết trong xử lý, để tình trạng kinh doanh gây mất an ninh trật tự kéo dài.
1.3. Đối với chủ doanh nghiệp:
Ngành nghề đăng ký kinh doanh Massa, xông hơi, xoa bóp được quy định trong danh mục ngành nghề kinh doanh cần có chứng chỉ hành nghề do ngành y tế thẩm định. Tuy nhiên, sau khi được Sở KH-ĐT cấp giấy phép kinh doanh, Ông Đ... đã không tiến hành thủ tục đăng ký hành nghề theo quy định; sử dụng nhân viên chưa có giấy chứng nhận, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật ngành xông hơi, xoa bóp; không đặt chuông cấp cứu từ phòng xông hơi thuốc. Ngoài ra, doanh nghiệp còn mắc nhiều sai phạm khác về lĩnh vực an ninh trât tự, an toàn xã hội như: không thực hiện bản cam kết an ninh và trật tự với cơ quan Công an; không trang bị lắp đặt thiết bị phòng cháy chữa cháy; không ký kết hợp đồng lao động với nhân viên làm việc tại cơ sở kinh doanh.
Với những sai phạm trên Doanh nghiệp không thể đỗ lỗi là không biết các quy định bắt buột này.
2. Hậu quả:
2.1. Về phương diện đời sống tinh thần xã hội:
Đất nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường và đang trên tiến trình hội nhập quốc tế. Sự xâm nhập văn hóa từ bên ngoài, lối sống thực dụng, văn hóa lai căng nhanh chóng du nhập vào nước ta. Một bộ phận chủ cơ sở hám lợi, dùng nhiều phương thức “tiếp viên nữ” nên dễ biến tướng thành tệ nạn xã hội (mại dâm) làm ảnh hưởng đến môi trường văn hóa và đời sống sinh hoạt cộng đồng, gây nhiều lo ngại và bức xúc đối với người dân.
Đối với doanh nghiệp “HP”, mặc dù trong quá trình kiểm tra chưa phát hiện và bắt quả tang những vi phạm về tệ nạn xã hội. Tuy nhiên massa, xông hơi, xoa bóp là loại hình kinh doanh nhạy cảm dễ dẫn đến tệ nạn xã hội. Do vậy, chính quyền địa phương hơn ai hết cần theo dõi và nắm chắc tình hình hoạt động để kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.
2.2. Về y tế và sức khoẻ:
Việc không chấp hành các quy định về lĩnh vực y tế như: sử dụng nhân viên chưa có giấy chứng nhận, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật ngành xông hơi, xoa bóp; không đặt chuông cấp cứu từ phòng xông hơi thuốc, điều này có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ, thậm chí cảnh báo nguy cơ “chết người” có thể xãy ra mà báo chí đã lên tiếng phản ảnh.
2.3. Về lĩnh vực thương mại dịch vụ:
Theo thống kê trên địa bàn thành phố Biên Hòa có gần 100 cơ sở kinh doanh massa, xông hơi, xoa bóp, thì đã có tới 80% trong số này vi phạm giấy phép kinh doanh. Việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh tràn lan, cấm xong rồi lại cấp phép, thiếu sự phối hợp đồng bộ từ các ngành. Theo quy định không có giấy chứng nhận hành nghề có nghĩa là không đủ điều kiện kinh doanh thì giấy phép kinh doanh cũng không sử dụng được. Doanh nghiệp "HP" mặc dù chưa có giấy phép hành nghề mà vẫn tổ chức hoạt động kinh doanh là trái quy định.
2.4. Về lĩnh vực an ninh trật tự:
Điều kiện quy định ngành nghề kinh doanh đặc biệt, khi sử dụng nhân viên phục vụ phải ký kết hợp đồng lao động. Trong khi kiểm tra hành chính, Đội KTLN ghi nhận có 01 nhân viên không ký kết hợp đồng lao động và nhân viên này chưa đủ 18 tuổi, như vậy doanh nghiệp đã vi phạm Nghị định số 45/2005/NĐ-CP.
Một trong những điều kiện kinh doanh ngành nghề đặc biệt cần thiết là phòng cháy, chữa cháy. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng con người. Thực tế, doanh nghiệp đã không chấp hành lắp đặt thiết bị phòng cháy chữa cháy tại cơ sở, cố tình thiết kế phòng ốc, lối đi, cầu thang ngoằn ngoèo để đối phó và làm chậm bước đoàn kiểm tra cũng có nghĩa là tiềm ẩn nguy cơ chết người khi có sự cố cháy, nổ xảy ra, vi phạm Nghị định số 123/2005/NĐ-CP.
Qua kiểm tra còn nhận thấy doanh nghiệp có biểu hiện sử dụng tiếp viên nữ phục vụ khách (tuy chưa bắt quả tang)... như vậy nguy cơ về tệ nạn xã hội là khó tránh khỏi nếu cơ quan quản lý và chính quyền địa phương buông lỏng quản lý.
IV. Phân tích lựa chọn phương án giải quyết:
Sau khi kiểm tra và ghi nhận lỗi vi phạm tại cơ sở, căn cứ theo các văn bản quy phạm pháp luật được quy định từng lĩnh vực ngành nghề. Đội KTLN xây dựng 3 phương án như sau:
Phương án 1: (Phương án lựa chọn trong xử lý tình huống)
Ngày 20/8/2008, Đội kiểm tra đã mời chủ cơ sở làm việc. Xét thấy Doanh nghiệp "HP" vi phạm hành chính lần đầu, chưa vi phạm về tệ nạn xã hội và ảnh hưởng về sức khoẻ. Đội kiểm tra xử lý hình chế tài theo mức bình quân (Lấy mức phạt cao nhất cộng mức thấp nhất chia đôi)
Phương án 2: (Hình thức xử phạt tăng nặng)
Doanh nghiệp tái phạm nhiều lần, có hành vi trốn tránh hoặc không hợp tác với cơ quan chức năng. Lỗi vi phạm liên quan đến tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và sức khoẻ, thì phương án lựa chọn sẽ xử phạt theo mức phạt cao nhất và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây chết người.
Phương án 3: (Hình thức xử phạt giảm nhẹ)
Nếu xét thấy cơ sở vi phạm lần đầu, ít lỗi vi phạm không liên quan đến tệ nạn xã hội nghiêm trọng, không để hậu quả về sức khoẻ. Sẽ xử lý bằng hình thức chế tài mức phạt thấp nhất.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN:
1. Các buớc thực hiện:
Bước 1: Lập biên bản vi phạm hành chính đối với chi nhánh DNTD "HP".
Buớc 2: Mời chủ doanh nghiệp đến văn phòng Đội kiểm tra liên ngành làm việc để xác định lỗi vi phạm, lắng nghe cở sở trình bày ý kiến và bổ sung giấy tờ liên quan (nếu có).
Buớc 3: Lập báo cáo đề xuất UBND thành phố Biên Hòa ra quyết định xử phạt.
Bước 4: Căn cứ vào đề xuất của Đội kiểm tra liên ngành, UBND thành phố Biên Hòa ban hành quyết định xử phạt hành chính.
Bước 5: Triển khai quyết định xử phạt hành chính, phối hợp với Chính quyền địa phương theo dõi quá trình chấp hành quyết định của đương sự.
2. Kết quả giải quyết:
UBND thành phố Biên Hòa ra quyết định xử phạt chi nhánh DNTN “HP” do Ông Hoàng Văn Đ... làm chủ như sau:
- Phạt tiền 750.000đ đối với hành vi vi phạm không đặt chuông cấp cứu từ phòng xông hơi thuốc, vi phạm vào điều 30 khoản 2 điểm b Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 400.000đ đối với hành vi vi phạm nhân viên phục vụ xoa bóp không đeo bảng tên theo quy định, vi phạm vào điều 30 khoản 2 điểm b Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 3.500.000đ đối với hành vi vi phạm sử dụng tiếp viên làm việc tại cơ sở không ký kết hợp đồng lao động, vi phạm điều 30 khoản 1điểm b Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 10.000.000đ đối với hành vi vi phạm không có bản cam kết thực hiện các điều kiện về an ninh trật tự với cơ quan công an, vi phạm điều 14 khoản 3 điểm b Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;
- Phạt tiền 2.000.000đ đối với hành vi vi phạm không thực hiện các quy định khác có liên quan khi kinh doanh dịch vụ có điều kiện (đăt hệ thống đèn báo động), vi phạm điều 21 khoản 3 điểm b Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại;
- Phạt tiền 5.000.000đ đối với hành vi vi phạm không trang bị, lắp phương tiện, hệ thống phòng cháy chữa cháy theo quy định về xử phạt vi phạm điều 21 khoản 4 điểm a Nghị định số 123/2005/NĐ-CP ngày 05/10/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong phòng cháy chữa cháy;
- Phạt tiền 500.000đ đối với hành vi vi phạm về việc sử dụng nhân viên không có giấy chứng nhận chuyên môn kỹ thuật để hành nghề xông hơi xoa bóp (01 nhân viên) vi phạm điều 21 khoản 2 Nghị định số 88/CP ngày 14/12/1995 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa và phòng chống tệ nạn xã hội.
Tổng cộng 7 lỗi vi phạm với mức phạt tiền là: 22.150.000đồng.
Ngoài hình thức xử phạt chế tài nêu trên, cơ quan kiểm tra còn đề nghị chủ Doanh nghiệp chấp hành thực hiện đúng các thủ tục giấy phép về ngành nghề kinh doanh đặc biệt (giấy chứng nhận đăng ký hành nghề, giấy chứng nhận về an ninh trật tự, an toàn xã hội và phòng cháy chữa cháy) trong thời gian chậm nhất 30 ngày; Công an, Tổ kiểm tra liên ngành là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhỡ doanh nghiệp chấp hành.
3. Những thuận lợi và khó khăn:
3. 1. Thuận lợi:
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò văn hóa trong qúa trình xây dựng và phát triển đất nước, ban hành những chính sách chiến lược phát triển văn hóa bền vững gắn với công tác xã hội hóa họat động văn hóa, được thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng trong những văn bản pháp luật theo trình tự thời gian, phù hợp công cuộc đổi mới đất nước.
Ý thức trách nhiệm của người dân đóng vai trò tích cực và không thể thiếu trong việc ngăn ngừa, phòng chống tệ nạn xã hội. Do vậy, cần nêu gương điển hình và kịp thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân tích cực tham gia trong phong trào giữ gìn trật tự, an ninh khu phố.
3.2. Khó khăn:
Các quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh, cụ thể loại hình massa, xông hơi, xoa bóp… chỉ có hình thức xử phạt chế tài, luật chưa có quy định về hình thức xử phạt bổ sung như: đình chỉ hoạt động hoặc tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh. Điều này cho thấy văn bản luật chưa đủ mạnh, chưa thể hiện tính nghiêm khắc; mức xử phạt chưa đủ tính răn đe nên vi phạm vẫn tiếp tục gia tăng, có nhiều cơ sở chiụ chấp nhận nộp phạt và tiếp tục vi phạm vì “món hời” lợi nhuận khá cao. Hầu như việc xử lý vi phạm mới chỉ dừng lại ở mức “hình thức”, phạt rồi lại cho phép hoạt động hoặc chỉ tiến hành theo phong trào kiểu “bắt cóc bỏ dĩa”, “đá ném ao bèo” đã dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật.
Rõ ràng là với những điều khoản không thống nhất, không cụ thể như vậy đã tạo ra những bật cập và kẽ hở của luật, để cho một số những cán bộ công chức thừa hành lợi dụng để tham nhũng “làm luật” dẫn đến vô hiệu hóa pháp luật. Từ đó, đặt ra cho các nhà quản lý vấn đề về phẩm chất tư cách đạo đức nói chung, đạo đức nghề nghiệp nói riêng của đội ngũ những người làm công tác quản lý kiểm tra.
C. KẾT LUẬN:
Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý bằng chính sách và pháp luật gắn chặt với công tác giáo dục tư tưởng và vận động, tuyên truyền kết hợp với quản lý nhà nước về kinh tế. Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực dịch vụ văn hóa nhằm xây dựng và giữ gìn một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.
Trong xu thế đất nước hội nhập, sự lựa chọn phát triển nền văn hóa gắn với tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại là con đường đúng đắn để bảo độc lập và chủ quyền đất nước. Những thế lực thù địch đang phá hoại đất nước ta bằng con đường “diễn biến hòa bình”, đưa văn hoá độc hại cùng với lối sống sa đọa, làm băng loại những giá trị đạo đức. Chính vì vậy quản lý văn hóa là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của riêng ngành văn hóa mà còn là của toàn đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý:
Rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện phù hợp với tình hình mới. Trong các điều khoản về xử phạt vi phạm hành chính cần tính đến các mức phạt đủ sức răn đe, tránh việc tái vi phạm của các cơ sở dịch vụ văn hóa.
Tổ chức và sắp xếp lại bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước, có cơ chế, chính sách thu hút những cán bộ có tài, có tâm, có tầm. Kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra giám sát của ngành từ thành phố đến cơ sở, đảm bảo đủ về số lượng cho hoạt động đạt hiệu quả. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quản lý, kiến thức chuyên môn; khoa học công nghệ thông tin. Tăng đầu tư ngân sách và kinh phí hoạt động, tạo điều kiện trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý kiểm tra đạt hiệu quả.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan như: Công an, Lao động - Thương binh và xã hội, Dich vụ - Thương Mại, y tế chính quyền địa phương... Tập trung kiểm tra, truy quét tệ nạn xã hội đối với các cơ sở kinh doanh có những biểu hiện vi phạm, có đơn thư phản ảnh của quần chúng nhân dân; có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các cơ sở tái phạm nhiều lần. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, không mang tính hình thức tạo tâm lý coi thường pháp luật của chủ doanh nghiệp.
Tuy nhiên tất cả những biện pháp trên có thể coi là những giải pháp tình thế, chúng ta không chỉ chú trọng mặt “chống” mà cần quan tâm hơn nữa mặt “xây”, vì đây là cách làm hiệu quả, là giải pháp cơ bản, bền vững nhất. Xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh là chúng ta đã thực hiện “chống” lại những hiện tượng phi văn hóa đang diễn biến phức tạp trong xã hội.
Vì môi trường văn hóa lành mạnh, vì lợi ích cộng đồng, mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp chúng ta cần tôn trọng kỹ cương phép nước, hãy “sống và làm việc theo pháp luật” nhằm hướng tới một xã hội tốt đẹp, văn minh hơn.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2008

TUYỂN TẬP TIỂU LUẬN - LUẬN VĂN

Link dowload: http://upandshare.net/tieuluanluanvan.zip
Chú ý: Để có password giải nén các bạn soạn tin theo cú pháp:VG TLLV gửi đến số: 8327
Phí: 3.000VND